Mo Mường

03/03/2021 08:00:00 AM
Mo trong đời sống người Mường là tên gọi một loại nghề nghiệp, một loại hình di sản văn hóa có tính nguyên hợp, là hoạt động diễn xướng văn hóa, văn nghệ dân gian chỉ thực hiện trong tang lễ và một số nghi lễ tín ngưỡng, nghi lễ vòng đời của người Mường. Nó bao gồm ba lĩnh vực chính cấu thành: Lời Mo, môi trường diễn xướng, con người thực hành diễn xướng Mo tức là Nghệ nhân Mo. Trong đó lời Mo gắn liền với Nghệ nhân Mo chiếm vị trí quan trọng nhất.

 Thầy mo làm lễ cúng trong Lễ Mát nhà

Cuộc đời mỗi con người ở các dân tộc khác nhau, đều có những nghi lễ liên quan đến vòng đời như: Sinh đẻ, trưởng thành, kết hôn… Đối với người Mường, tang lễ là nghi lễ cuối cùng của cuộc đời mỗi con người mà con người chỉ được thụ hưởng khi chết. Với người Mường khi chết đi họ chuyển sang thế giới Ma bên mường Chạ Đống cùng với Tổ tiên, họ hàng bên ma. Từ những niềm tin và quan niệm trên các dân tộc sản sinh ra các thiết chế tang ma để thực hiện những nghi lễ “cần thiết” để chuẩn bị và tiễn đưa người quá cố đi đến cõi vĩnh hằng.

Với người Mường việc tổ chức tang lễ trong đó có các nghi lễ Mo, do các thầy Mo làm chủ tế. Đó là những nghi lễ nhằm cho con cháu lần cuối cùng được báo hiếu cha mẹ và chuẩn bị “hành trang” cho người chết đi sang thế giới Mường Ma. Đây chính là nguồn gốc cơ bản sản sinh ra Mo Mường. Bao đời qua Lời Mo được truyền dạy theo lối truyền khẩu gắn liền với con người thực hành Mo và và lưu giữ trong truyền khẩu dân gian.

Lời Mo ngày nay đa số được gọi là Mo Mường, là tập hợp các bài văn vần chức năng, được diễn xướng trong 12 đêm Mo tang lễ, trong tổ chức tang lễ cổ truyền người Mường. Các bài văn vần này được chia thành các cát Mo, hay roóng Mo, trong văn học thành văn gọi là các chương, hồi. Mỗi chương Mo có chủ đề, có mục đích sử dụng riêng cho từng đề mục nghi lễ trong một chuỗi các nghi lễ được tiến hành trong tang lễ. Trong đó có các chương Sử thi dân gian, phong tục tập quán, tri thức dân gian… Trong dân gian Mường. mỗi một vùng Mường có lưu truyền nhiều bản Mo tuy có khác nhau đôi chút, song cơ bản vẫn tương đồng và khá thống nhất.

Chỉ riêng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình hiện có nhiều bản Mo được sưu tầm, song có 3 bản Mo chính, đã được sưu tầm và xuất bản có dung lượng và quy mô rất lớn. Theo nhà sưu tầm Bùi Thiện thì tiến hành đầy đủ Mo phải mất 23 ngày mo liên tục với 115 roóng Mo và hơn 44.000 câu thơ Mo. Trong công trình Mo Mường dài 3 tập của Bùi Nợi có hơn 22.000 câu Mo. Bản Mo Mường Hòa Bình do UBND tỉnh Hòa Bình xuất bản năm 2010 có dung lượng trên 22.500 câu. Tuy nhiên chỉ có bản của Bùi Thiện đầy đủ hơn vì trong đó sưu tầm cả: Mo Vía, Mo tín ngưỡng…. Còn lại chủ yếu là sưu tầm Mo trong tang lễ. Các tỉnh khác như: Thanh Hóa, Sơn La... cũng đã sưu tầm, biên dịch và xuất bản.

Nhìn tổng thể Mo Mường chính là thể hiện nhân sinh quan, quá trình nhận thức thế giới, phản ánh thế giới quan, vũ trụ quan... của người Mường. Một bộ bách khoa thư dân gian về người Mường, do người Mường sáng tạo ra. Từng roóng có chức năng khác nhau, phù hợp cụ thể trong từng nghi lễ, trong đó có Mo sử thi đẻ đất, đẻ nước, phản ánh hoạt động lao động, sản xuất, chống chọi với thú dữ, thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại,... gọi chung là Mo Sử thi Mường.

 Người Mường thường sử dụng mo trong các nghi lễ

Mo Sử thi Mường có chung những đặc điểm chung của Sử thi Thế giới, song thiên về phản ánh chân thực đời sống con người thời hồng hoang sơ sử và thậm chí cả thời Tiền sử. Nói như Trần Từ các nhân vật trong Mo Mường mang dáng dấp của những con người sáng tạo văn hóa. Truyền thuyết con Chim Ây - Cái Ứa đẻ trứng trong hang đá, trứng nở ra muôn loài trong đó có con người cũng trong hang đá đó là Hang Hanh - Hang Hao. Gia đình đầu tiên của người Mường được biết đến chính là gia đình Đá Cài, Đá Cần và nàng Út Dạ Kịt ở trong hang đá… Có thể thấy những chi tiết trên đây thể hiện sự nhận thức thế giới của người Mường thời cổ xưa rất khoa học, rất thực tiễn. Các chi tiết trên đã phản ánh rất rõ trước kia con người đã có giai đoạn sinh sống trong các hang đá.

Đầu thế kỷ thứ 20 với các phát hiện và các cuộc khai quật khảo cổ học của bà Ma-đơ-len Cô-la-ni đã phát hiện ra có một nền văn hóa thời Tiền sử con người từng sống trong các mái đá, hang động. Năm 1930 một thuật ngữ khoa học đã được định danh “Văn hóa Hòa Bình” rất nổi tiếng như chúng ta đã biết ngày nay. Đây là một chứng cớ khoa học khẳng định có nhiều sự kiện lịch sử phản ánh trong Mo Sử thi là có thực.

Các roóng Mo Xin Lửa, Làm nhà sàn, Mo Trâu, Đẻ gà, Kuông Đèn… Phản ánh rất rõ thuở hồng hoang khi mới ra khỏi hang xuống các vùng đất bằng, bưa bãi, chân đồi thấp để định cư, hình thành các khu dân cư. Ban đầu con người ăn sống, nuốt tươi, chưa có lửa để sưởi ấm, để nướng chín thức ăn, chưa có nhà để ở, chưa thuần dưỡng được thú hoang làm vật nuôi…Việc đi xin lửa trên trời được các Roóng Mo nhắc đến, thực chất là đi tìm hiểu, sáng tạo là “công nghệ” làm ra lửa. Các Roóng Mo mô tả kỹ việc lấy đá cặm cọt vót nhui kéo dây dang qua đáy máng cây khô, trên có đặt mui nhui, quá trình kéo đi, kéo lại làm máng cây bị ma sát nóng lên khiến mui nhui bắt lửa. Cây dâu hoang được mang về trồng, con trâu, con gà được thuần dưỡng thành vật nuôi… Tất cả chính là sự phản ánh chân thực đời sống người Mường thuở hồng hoang.

Mo Mường là một sáng tạo vĩ đại của người Mường. Mo Mường tích tụ trong nó gần như toàn bộ những giá trị hợp thành văn hóa Mường; lịch sử, văn học, xã hội, nghệ thuật, tín ngưỡng, sinh hoạt...Với việc phản ánh rõ thế giới quan, nhân sinh quan của người Mường về nhận thức thế giới, những yếu tố lịch sử được lưu giữ từ thời hồng hoang, Mo Mường đang từng bước hoàn thiện hồ sơ, đệ trình UNESSCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.

Bùi Huy Vọng-Nghĩa Hiệp/ baodantoc.vn